Friday, June 19, 2020

Vụ thủ tiêu gián điệp hai mang của Dự Án Gamma làm chấn động nước Mỹ, kéo Nhà Trắng và Điện Kremlin vào cuộc.


Vụ thủ tiêu gián điệp hai mang của Dự Án Gamma làm chấn động nước Mỹ, kéo Nhà Trắng và Điện Kremlin vào cuộc.

blank
1* Mở bài
Vụ án làm kinh động nước Mỹ khiến cho Nhà Trắng vào cuộc và Điện Kremlin thừa nước đục thả câu, phát động tuyên truyền chống Mỹ trên thế giới.
Sự việc bắt đầu bằng vụ thủ tiêu gián điệp hai mang tên Thái Khắc Chuyên, là  thông dịch viên người Việt Nam làm việc trong toán Biệt kích Mủ xanh B-57 có nhiệm vụ thực hiện Dự án Gamma (Project Gamma) mục đích vượt qua biên giới Cam Bốt thu thập tin tức tình báo về hoạt động của Cục R trên vùng Mỏ Vẹt của xứ Chùa Tháp.
Chỉ huy trưởng Lực Lượng Đặc Biệt là Đại tá Robert Bradley Rheault và 7 quân nhân của toán biệt kích B-57 bị cáo buộc về tội giết người và âm mưu giết người.
Ở Mỹ, gia đình của những quân nhân bị cáo, vận động khắp nơi khiến cho các dân biểu, TNS đối lập nhảy vào chỉ trích chính quyền Nixon. Các hãng thông tấn cử người qua Việt Nam làm phóng sự tường thuật tại chỗ.
Các hãng tin lớn của Mỹ như New York Times, Charlotte Observer, Time, International Herald Tribune và Washington Post… đều cử ký giả vào Việt Nam làm phóng sự.Các đài truyền hình như NBC, CBS, ABC cử thông tín viên sang điều tra, phỏng vấn những nơi liên hệ.
Liên Xô phát động một chiến dịch tuyên truyền tiếp theo vụ Mỹ Lai. Hà Nội la ó lên chửi Mỹ. Vợ của Thái Khắc Chuyên mặc đồ tang đến trước cửa sứ quán Mỹ khóc lóc, kể lể, lăn lộn gây ồn ào, giới truyền thông lấy làm đề tài ly kỳ hấp dẫn.

2* Lịnh thủ tiêu gián điệp Việt Cộng Thái Khắc Chuyên
Ngày 20-6-1969, lịnh thủ tiêu gián điệp hai mang Thái Khắc Chuyên được thi hành.
Khoảng 8 giờ tối, Đại úy Robert Marasco và những nhân viên của ông thi hành lịnh của chỉ huy trưởng Lực Lượng Mũ Xanh, đại tá Robert Bradley Rheault, là hạ sát và thủ tiêu Thái Khắc Chuyên.
Thiếu úy Edward Boyle đè giữ Thái Khắc Chuyên nằm duới sàn nhà trong khi Đại úy Leland Brumley chích mũi morphine thứ hai vào Chuyên. Vài phút sau, Chuyên nhắm nghiền đôi mắt, hơi thở yếu dần và mê mang như một xác chết.
Dán băn keo bịt miệng. Trói hai cườm tay ra sau lưng. Thân thể Chuyên được cuốn tròn trong chiếc poncho, và chỉ trong vài phút cuộn poncho được đưa lên xe tải chở ra bờ sông.
Hai quân nhân Mỹ khiêng cuộn poncho xuống tàu, trên đó đã có đại úy Robert Marasco và Đại úy Budge Williams chờ sẵn. Trung sĩ Kautson lái tàu.
Chiếc tàu vượt qua những con sóng lớn, nhấp nhô hướng ra cửa biển. Bổng nhiên có tiếng rên nho nhỏ từ chiếc poncho, đó là tiếng của Thái Khắc Chuyên sau khi thuốc ngủ tan dần.
Đại úy Leland Brumley vội rút khẩu súng nòng dài có gắn ống hãm thanh, loại súng đặc biệt để trang bị cho nhân viên CIA, số súng không có ghi trong các danh mục vũ khí của quân đội, mà nó được đăng ký ở trung tâm Okinawa. Một phát súng bắn vào đầu Chuyên. Tiếng rên im bặt.
Đến nửa đêm, con tàu ra tới cửa biển, đảo Hòn Tre lù lù hiện ra ở phía xa. Ba người dùng dây xích thật nặng bó chặt chiếc poncho rồi ném xuống biển.
Tưởng đâu việc thủ tiêu gián điệp hai mang nầy là kết thúc câu chuyện, nhưng không ngờ nó lại bắt đầu một vụ án phức tạp mà tạp chí Time gọi là “vụ bê bối tình báo nghiêm trọng chỉ đứng sau vụ Mỹ Lai mà thôi”.

3* Dự án Gamma (Project Gamma)
        Thái Khắc Chuyên được lính mũ nồi xanh hộ tống đến biên giới để xâm nhập Campuchia

3.1. Thu thập tin tức tình báo Cục R trên đất Cam Bốt
  Căn cứ B57 ở Nha Trang * Phù hiệu của Đơn vị Tình báo B57
Dự án Gamma (Project Gamma) là công tác mật nhằm thu thập tin tức tình báo về hoạt động của Cục R cung cấp cho CIA và Quân đội Hoa Kỳ. Đồng thời cung cấp tọa độ cho B-52 đến dội bom. Cục R là Trung Ương Cục Miền Nam VN trực thuộc Ban Chấp Hành TW đảng CSVN, có nhiệm vụ chỉ đạo Mặt Trận GP/MN/VN. Cục R được Hoàng thân Norodom Sihanouk ủng hộ và cho phép đặt căn cứ trên đất Cam Bốt ở Vùng Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt, giáp ranh với Việt Nam.
Dự án Gamma do toán biệt kích B-57 của Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force), còn gọi là Mủ Nồi Xanh (Green Berets) thực hiện. Lực Lượng Đặc Biệt do Đại tá Robert Bradley Rheault làm chỉ huy trưởng, bản doanh đóng tại Nha Trang.
Căn cứ của toán B-57 đặt tại trại A-414 ở xã Thạnh Trị, huyện Mộc Hóa, tỉnh Kiến Tường, (Trước 1975) chỉ cách biên giới Campuchia 2km. Cũng giống như các dự án khác, gồm Project Delta do B-52 thi hành ở biên giới Lào, Project Sigma do B-56 phụ trách, căn cứ tại Ban Mê Thuột, các dự án đều do CIA tài trợ và điều hành. 

3.2. Vài nét về Thái Khắc Chuyên
  Thái Khắc Chuyên sinh năm 1938 tại Miền Bắc Việt Nam. Cha là Thái Khắc Quy, mẹ là Thái Thị Lục.
Năm 1954, di cư vào Nam. Lúc đó Chuyên 16 tuổi. Ba anh trai và hai chị gái còn kẹt ở Miền Bắc. Gia đình di chuyển nhiều nơi nên việc học hành bị gián đoạn, thi tú tài nhiều lần mà  không đậu.
Chuyên làm việc cho hãng thầu Mỹ RMK-BRJ được 3 tháng thì bỏ việc. Đi làm thông dịch viên cho đơn vị Mủ Xanh (Green Berets) đóng ở Ashau, Đà Nẵng.
Chuyên bỏ việc thì 3 hôm sau căn cứ Ashau bị mất vào tay CSBV. Chuyên làm thông dịch viên cho toán Biệt Kích Mỹ B-57 đóng ở Mộc Hóa, Kiến Tường. Cấp trên của Chuyên là Trung sĩ Alvin Smith, bí danh là Peter Sands. Chuyên có ám số nhân viên là SF7-116. Nhiệm vụ là theo tổ biệt kích vượt qua lãnh thổ Cam Bốt thu thập tin tức tình báo của Cục R ở vùng Mỏ Vẹt và Lưỡi Câu.
Vợ Chuyên tên Phan Kim Liên và em dâu tên Lâm Hoàng Oanh sống tại nhà số 53/1/46 đường Phan Thanh Giản, Sài Gòn.
Thái Khắc Chuyên làm gián điệp cho Việt Cộng, bị hạ sát và thủ tiêu ngày 20-6-1969. 

4* Thái Khắc Chuyên là gián điệp của Việt Cộng
Tháng giêng năm 1969, Đại úy Robert Marasco, bí danh là Mike Martin, được cử đến chỉ huy toán biệt kích B-57. Marasco tổ chức được 20 cộng tác viên người Cam Bốt làm nhiệm vụ dọ thám vùng Mỏ Vẹt, căn cứ của Cục R, đồng thời dọ thám các hoạt động của Norodom Sihanouk.

4.1. Sự mất tích của các cộng sự viên người Cam Bốt
Cuối tháng 4 và đầu tháng 5 năm 1969 những cộng tác viên người Cam Bốt bổng nhiên mất liên lạc, mất tích. B-57 lâm vào tình trạng nguy hiểm, có thể bị tiêu diệt. Nhiều nghi vấn được đặt ra, không loại bỏ có gián điệp Việt Cộng nằm vùng trong đơn vị. Một cuộc điều tra được bí mật tiến hành. Thái Khắc Chuyên là mục tiêu vì là người Việt Nam, có khả năng liên lạc với Việt Cộng, có anh em đang sống ở miền Bắc. Những quân nhân Mỹ khó bắt liên lạc với Cộng Sản.
Cuộc điều tra gặp khó khăn vì hồ sơ không đầy đủ. Thiếu rất nhiều chi tiết mà nhân viên tình báo phải có là: những đơn vị phục vụ trước kia, kết quả trắc nghiệm bằng máy phát hiện nói dối trong hồ sơ tuyển dụng. Trung sĩ Alvin Smith là người tuyển dụng Chuyên, đã không thực hiện đúng theo quy định tuyển dụng nhân viên tình báo. Chuyên là người rất giỏi tiếng Anh mà tại sao không làm việc ở Sài Gòn để sống với gia đình, lại phải xuống tận nơi “địa đầu giới tuyến” ở Mộc Hóa, Đồng Tháp Mười?
Cuộc điều tra không có kết quả nào cả. Chỉ phát hiện được một vụ những người Việt làm cho Mỹ đã tham gia vụ bán vũ khí và thuốc men cho Việt Cộng.

4.2. Phát hiện gián điệp hai mang
Đến một ngày, trong cuộc hành quân vượt qua biên giới, biệt kích Mỹ thu được nhiều tài liệu trong đó có một cuồn phim. Sau khi rửa ra thì thấy hình một người trong đám cán bộ Việt Cộng, đó là hình của Thái Khắc Chuyên. Chính người đã tuyển dụng và cũng là bạn thân của Chuyên là Trung sĩ Alvin Smith cũng xác nhận người trong hình chính là Thái Khắc Chuyên.

4.3. Báo cáo của Trung sĩ McIntosh
Trung sĩ Terry McIntosh chỉ huy một toán 12 người đi phục kích, Thái Khắc Chuyên có mặt trong toán đó. Khi chạm địch, giao tranh dữ dội xảy ra nhưng Chuyên cứ loay quay với khẩu súng mà không bắn ra viên đạn nào cả. Máy truyền tin bị trục trặc nên không gọi pháo binh yểm trợ được. Phải vất vả lắm toán biệt kích mới thoát ra khỏi tầm đạn của địch và nằm chờ cho qua đêm.
Sáng hôm sau, kiểm tra lại thì thấy máy truyền tin bị ai đó bật qua kênh khác, sai tần số nên không hoạt động. Chuyên cho biết là súng của anh bị kẹt đạn nên không bắn trả lại được.
Thế là Chuyên bị bắt giữ và bí mật chuyển ra Bộ chỉ huy B-57 ở Nha Trang để điều tra. Bị thẩm vấn suốt 10 ngày. Chuyên không vượt qua được máy phát hiện nói dối (Polygraph) nhưng anh ta không công nhận hoạt động cho Việt Cộng, kể cả việc liên lạc với một nữ giao liên ở Mộc Hóa mà anh thường xuyên tiếp xúc, đã bị theo dõi.
Thái Khắc Chuyên được xác định là gián điệp của Việt Cộng. Gián điệp nhị trùng.

4.4. Đại tá Robert B. Rheault ra lịnh thủ tiêu Thái Khắc Chuyên
B-57 liên lạc với văn phòng CIA Sài Gòn để xin ý kiến xem nên giải quyết vụ việc như thế nào. CIA im lặng. Mười ngày sau, thêm một công điện mật và khẩn, nhưng CIA trả lời lập lờ.
Cuối cùng đại tá Robert Bradley Rheault, Tư lịnh Lực Lượng Đặc Biệt ở Việt Nam, ra lịnh hạ sát và thủ tiêu đương sự. 

4.5. B-57 dàn cảnh cho việc vắng mặt của Thái Khắc Chuyên
Sau khi thủ tiêu Thái Khắc Chuyên, B-57 dàn dựng một màn kịch để giải thích sự vắng mặt của Chuyên. Đó là cử Trung sĩ Wayne Ishimato, gốc Nhật Bản, đóng vai Chuyên đi công tác ở Campuchia và mạo danh Chuyên gởi về những báo cáo giả mạo.
Ishimato khai tất cả những chi tiết trong hồ sơ tòa án.
4.6. Đóng cửa tìm biện pháp thủ tiêu Thái Khắc Chuyên
1). Trung sĩ Alvin Smith phản đối việc thủ tiêu Thài Khắc Chuyên
Các nhân viên của B-57 họp mật bàn biện pháp thủ tiêu gián điệp nhị trùng Thái Khắc Chuyên. Nhiều biện pháp được nêu ra: “Chở qua Đài Loan thủ tiêu, đưa vào rừng rậm thủ tiêu, đạp xuống biển từ phi cơ trên cao độ, dàn cảnh một vụ tự tử bằng thắt cổ…
Chỉ riêng Trung sĩ Alvin Smith phản đối việc thủ tiêu.
Ngày 20-6-1969 Thái Khắc Chuyên bị giết, ném thây xuống Biển Đông.

5* Bùng nổ Vụ án Thái Khắc Chuyên (The Green Beret Affair)

5.1. Trung sĩ Alvin Smith tố cáo vụ thủ tiêu Thái Khắc Chuyên
Trung sĩ Alvin P. Smith là người tuyển dụng Chuyên, cũng là bạn thân của Chuyên và là người duy nhất phản đối việc hạ sát Chuyên.
Khi thấy Chuyên bị thủ tiêu, Smith lo sợ cho số phận của anh ta, có thể giống như Chuyên. Giết người diệt khẩu. Smith lo lắng. Không dám ngủ trong phòng của anh, mà xuống nhà kho lấy một tấm nệm rồi đêm đêm ngủ bí mật ở nhiều nơi. Súng luôn có đạn lên nòng, để dưới gối nằm.
Cuối cùng, Smith chạy đến văn phòng CIA Nha Trang tố cáo mọi việc và xin được tỵ nạn. Smith không phải là lính mủ xanh, mà là cựu nhân viên CIA được cử sang B-57.
CIA Nha Trang báo cáo về CIA Sài Gòn, và vụ việc được báo cáo lại cho Đại tướng Chỉ huy MACV (Military Assistance Command Vietnam) là Creighton Williams Abrams, Jr. . Tướng Abrams gọi đại tá Rheault về trình diện.
Tại MACV, Rheault trình bày với tướng phụ tá tình báo của Abrams là Trung tướng George L. Mabry. Nội dung là câu chuyện được dàn dựng do trung sĩ gốc Nhật Bản Wayne Ishimato giả dạng Thái Khắc Chuyên đi công ở Cam Bốt để chứng minh sự vắng mặt của Chuyên.

5.2. Tướng Abrams tức giận ra lịnh bắt giam đưa ra tòa          
Tướng Abrams nổi giận, cho rằng đại tá Rheault nói dối để gạt ông ta, và ra lịnh bắt điều tra tất cả những người liên hệ.
Đại tá Rheault, đại úy Ramasco và 6 quân nhân khác bị bắt để điều tra, với lý do là giết người và đồng lõa giết người. Đó là các sĩ quan Mủ Xanh ở toán B-57, gồm có Đại úy Marasco, Brumley, Boyle, Williams, Middleton, Crew, Ken Facey, Kautson
Ngày 21-7-1969, tám người bị đưa về nhà giam ở căn cứ Long Bình, viết tắt là LBJ (Long Bình Jail) được mỉa mai sửa LBJ lại là khách sạn Johnson (Lyndon Baines Johnson là tên Tổng thống Mỹ)

5.3. Vụ án làm náo động nước Mỹ
Vụ án nổi tiếng đến mức tất cả những tờ báo lớn nhất nước Mỹ đều gởi phóng viên đến Sài Gòn để tường thuật trực tiếp về vụ án. Các báo: New York Times, Charlotte Observer, Time, International Herald Tribune, Washington Post, Life, Los Angeles Times, Chicago Tribune, Newsweek và các đài truyền hình CBS (Columbia Broadcasting System), NBC (National Broadcasting Company), ABC (American Broadcasting Company).
Sau vụ rùm ben Mỹ Lai năm 1968, vụ nầy cũng làm cho Tướng Abrams nhức đầu không ít.
Báo, đài và các chính trị gia đối lập làm ồn ào, náo  động cả nước Mỹ.
Sau khi hoàn tất hồ tư pháp lý, tháng 8 năm 1969, phiên tòa quân sự được mở ra ở căn cứ Long Bình.
Theo luật của Mỹ, luật sư của các quân nhân mủ xanh bị cáo yêu cầu tòa cho gọi các nhân chứng, trưng ra vật chứng bao gồm hồ sơ của CIA và VNCH có liên quan đến nạn nhân VN và 8 bị cáo người Mỹ. Đồng thời phải có xác chết của nạn nhân để chứng TKC đã chết.

5.4. Các nhân chứng từ chối ra tòa
Hai nhân chứng là sếp CIA, Theodore Shackley và Tướng Abrams. Cả hai từ chối ra tòa, viện dẫn lý do về an ninh quốc gia, về bí mật quân sự, vì thật ra B-57 hoạt động trái phép khi xâm nhập lãnh thổ Cam Bốt. Riêng CIA viện dẫn luật bãi miễn dành cho CIA.

5.5. Không tìm thấy xác Thái Khắc Chuyên
  Người nhái trên tàu dò mìn USS Woodpecker chuẩn bị lặn tìm xác Thái Khắc Chuyên
Bộ chỉ huy Hải Quân Mỹ ở Việt Nam phải mượn lịnh của Đại tướng Abrams mới được Hạm Đội 7 cung cấp phương tiện mò tìm xác của nạn nhân. Bảy ngày sau, chiếc tàu rà mìn USS Woodpecker đến duyên hải Nha Trang. Trong ngày đầu, toán thợ lặn báo cáo sóng to, gió lớn, dòng chảy nước khá lớn, bùn ngập tới đầu gối, tầm nhìn chỉ có 2m.
Đến chiều ngày hôm sau, thợ lặn mới tìm thấy chiếc mỏ neo mà họ thả xuống ngày hôm trước, mà 24 gờ sau nó đã trôi xa hơn 100 yards. Họ cho rằng với tình trạng nầy, xác của Chuyên lúc 6 tháng trước thì nay có thể đã trôi đến phân nửa con đường trở về Hà Nội của Chuyên rồi.

6* Bà Phan Kim Liên quậy “tưng bừng”
Phan Kim Liên là vợ của Thái Khắc Chuyên, cư ngụ ở số 53/1/46 đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, cùng với người cha và cô em dâu tên Lâm Hoàng Oanh.
Khi nghe tin luật sư Gregory đến Việt Nam, bà Liên tìm đến khách sạn Caravelle gặp và khóc lóc xin giúp đỡ tìm chồng. Nhưng ông nầy từ chối và cho biết ông là luật sư đại diện cho những quân nhân đã giết chồng bà.
Tờ Washington Post cử đại diện là Robert Kaiser và người phụ tá người Việt tên Vũ Thụy Hoàng qua Việt Nam. Ngày 18-8-1969 báo nầy đưa tin, vụ án bị cho chìm xuồng vì lý do chính trị. Căn cứ vào tin nầy, người anh của bà Phan Kim Liên đòi đưa 8 bị can ra tòa án Việt Nam Cộng Hòa để không bị ảnh hưởng vì lý do chính trị ở Mỹ. Còn bà Liên thuê luật sư gởi đơn đến Đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker và chỉ huy trưởng MACV là Đại tướng Creighton Williams Abrams, Jr. đòi cho biết về tình trạng sống chết của người chồng mất tích. Bản sao gởi cho Tổng thống VNCH. Nội dung trong đơn ghi rõ, chồng bà thuộc gia đình chống Cộng, không phải là VC mà cũng không phải là điệp viên vì ông ấy tánh tình nóng nảy không giữ bí mật được. Hơn nữa, ông ấy chỉ là một thông dịch viên quèn, không có ngạch trật, cấp bậc nào cả.
Thấy mình là trung tâm của vụ án mà không có ai đá động gì tới, cho nên ngày 18-8-1969 bà Liên đến tòa đại sứ Mỹ đưa đơn khiếu nại.
Ngồi chờ ở bàn tiếp khách suốt mấy tiếng đồng hồ mà không được tiếp, nên đành phải để đơn lại, ra về.
Hôm sau, đại diện sứ quán Mỹ đến nhà nhưng người cha không cho gặp bà Liên và từ chối trả lời những câu hỏi.
Người đại diện để lại lời nhắn, là nên khiếu nại quân đội Mỹ vì chồng bà làm việc cho Green Berets.
Nhận được lời nhắn đó, bà Liên bỏ việc yêu cầu đưa vụ việc ra tòa án VNCH. Thay vào đó yêu cầu tòa đại sứ Mỹ và Quân đội Hoa kỳ phải bồi thường thiệt hại.
Bà Liên bồng hai đứa con, 2 tuổi và mới sanh đến cổng sứ quán Mỹ khóc lóc, kể lể và quy trách nhiệm cho chính phủ Mỹ, bà nguyền rủa rằng oan hồn của chồng bà sẽ không tha thứ và theo đuổi họ suốt đời. Bà cũng đòi tự tử rồi ngất xỉu trước sứ quán Hoa Kỳ. Báo chí có đề tài làm bản tin.
Ngày 2-10-1969, một sĩ quan tài chánh đến nhà và trao cho bà số tiền mặt là 6,472 USD, nói rằng đó là tiền tử tuất, tương đương với 3 tháng lương của chồng bà. Kèm theo là giấy cam kết yêu cầu bà ký tên vào, là từ nay không khiếu nại gì thêm nữa.
Khi được tin chính thức về các quân nhân mủ xanh được thả, các nhà báo quốc tế thực hiện một cuộc phỏng vấn ứng khẩu với các bên liên hệ trước tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Bà Phan Kim Liên xuất hiện trong bộ đồ tang trắng, khóc sướt mướt, lăn lộn, kể lể: “Chồng bà di cư vào Nam để tìm tự do và đã làm việc giúp người Mỹ thế mà người Mỹ giết anh ta và trốn tránh trách nhiệm. Các nhà báo nước ngoài bao quanh người phụ nữ “đau khổ” với thái độ thông cảm.
Bà Liên đòi tự tử tại chỗ và nói: “Họ phải lãnh trách nhiệm về cái chết của anh ta hoặc cái chết của tôi ngày hôm nay. Oan hồn chồng tôi sẽ theo ám ảnh họ suốt đời”.
Bà Liên không đá động gì tới những bằng chứng chồng bà là gián điệp cho Việt Cộng cả.
Sau 1975, bà Phan Kim Liên sống trong tình trạng nghèo khổ tại thành phố đổi tên.
Mấy người anh của Thái Khắc Chuyên ở Hà Nội cũng thuộc về thành phần công dân hạng bét của chế độ, cũng như bao nhiêu tín đồ Thiên Chúa Giáo khác. Hồi tháng 8 năm 1991, con trai của Thái Khắc Chuyên tên Thái Quốc Việt vẫn tin cha anh còn sống, viết thơ cho nhà báo Jeff Stein hỏi về số phận của cha anh và thú nhận ”thật là khó sống với những năm tháng dài trong ngờ vực”.

7* Xếp lại vụ án
7.1. Các quân nhân B-57 được trả tự do
Luật sư của các bị cáo đòi tướng Abrams và những lãnh đạo CIA ra trước tòa làm nhân chứng. Những người nầy từ chối ra tòa.
Theo chỉ thị của Toà Bạch Ốc (Tổng thống Nixon), Bộ trưởng Lục quân Mỹ, Stanley Reson, tuyên bố bãi bỏ những cáo buộc 8 quân nhân Mủ Xanh vì lý do an ninh quốc gia.
Đó là các toán biệt kích B-57 hoạt động tình báo bên trong lãnh thổ Campuchia, vi phạm luật quốc tế và lộ bí mật quân sự.
Đại úy Marasco cho biết, ông là quân nhân thi hành mệnh lịnh của cấp trên nên không chịu trách nhiệm. Việc truy tố được bãi bỏ, tất cả các bị cáo được tự do.
Riêng đại tá chỉ huy trưởng Lực Lượng Đặc Biệt ở Việt Nam, Robert B. Rheault bị buộc phải giải ngũ. Ông từ trần ngày 16-10-2013 tại nhà riêng thuộc Owls Head, bang Maine hưởng thọ 87 tuổi.

7.2. Vài nét về Đại tá Robert Bradley Rheault
Đại tá Robert Bradley Rheault (31-10-1925 – 16-10-2013) tốt nghiệp Học Viện quân sự West Point, New York. Đã từng tham dự chiến tranh Triều Tiên. Ông phục vụ trong Lực Lượng Đặc Biệt trú đóng ở Đức, Okinawa trước khi đến Việt Nam. Rheault giữ chức chỉ huy trưởng lực lượng lính mũ xanh từ ngày 5-5-1969, bản doanh đóng tại Nha Trang.
Người cha của ông đã từng phục vụ trong ngành cảnh sát Hoàng gia Canada. Gia đình ông di cư đến Mỹ năm 1943. Rheault nói thông thạo tiếng Pháp từ lúc còn nhỏ. Ông tốt nghiệp cao học ngành bang giao quốc tế tại Đại học Paris.
Năm 1947, Rheault kết hôn với Caroline “Nan” Young. Có 3 người con. Năm 1977, kết hơn với người vợ thứ hai là Susan St. John.
Các đồng nghiệp cho biết, Đại tá Rheault là người được tôn trọng và kính mến nhất trong binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Con đường binh nghiệp của ông có thể tăng lên cấp tướng trong quân đội Hoa Kỳ. Nhưng ông kết thúc binh nghiệp sau vụ thủ tiêu gián điệp hai mang tên Thái Khắc Chuyên.
Dự án Gamma ngưng hoạt động vào ngày 31-3-1970.

8* Liên Xô phát động chiến dịch tuyên truyền ầm ĩ
Vụ án Thái Khắc Chuyên nổ ra bị cho là “bê bối tình báo chỉ đứng sau vụ Mỹ Lai mà thôi”, tạp chí Time nhận định như thế.
Liên Xô lợi dụng sự việc nầy phát động chiến dịch tuyên truyền rầm rộ. Đài phát thanh Moscow, Hà Nội và báo chí Cộng Sản tố cáo lực lượng mũ xanh Hoa Kỳ là những kẻ suy thoái tâm thần, bản chất cướp bóc, phá hủy, chà đạp phần còn lại của thế giới loài người tiến bộ. Tố cáo lính mũ xanh giết nông dân, không thương xót, không buông tha phụ nữ, người già và trẻ em Việt Nam.

9* Kết luận
Mỹ có bằng chứng Thái Khắc Chuyên là gián điệp của việt Cộng. CIA ngầm bật đèn xanh cho việc thủ tiêu nhưng lại không chịu trách nhiệm. Vì chỉ có tòa án hợp pháp mới có quyền xét xử. Án tử hình cũng phải do luật định hợp pháp mà tòa kết án.
Vụ án gây ồn ào làm náo động cả nước Mỹ. Tòa Bạch Ốc ( Tổng thống Nixon) chỉ thị cho Ngũ Giác Đài hủy bỏ những cáo buộc 8 quân nhân Mủ Xanh. Tất cả được tự do. Riêng Đại tá Robert B. Rheault bị buộc phải giải ngũ.
Vụ án có phần phức tạp. Về mặt pháp lý, Thái Khắc Chuyên là  người Việt Nam, mang quốc tịch VNCH. Làm việc cho tình báo Mỹ. Làm gián điệp cho Cộng Sản Bắc Việt. Vậy tòa án nào có đủ thẩm quyền pháp lý để xét xử vụ án nầy?
Trúc Giang


Đêm 19/2/1969 trung sỹ Terry McIntosh, thuộc toán A-141 dẫn tiểu đội biệt kích 12 người Thượng đi phục kích, trong đó có Thái khắc Chuyên đi với nhiệm vụ thông dịch viên, theo tin tình báo cung cấp một trung đội vc trang bị vũ khí nặng đang trên đường di chuyển để tấn công Mộc Hóa. Khi trời chớm bình minh, toán phục kích phát hiện du kích tiến ra từ ven bià rừng, tuy không thể chắc chắn bao nhiêu địch quân, nhưng qua ống kính nhìn đêm nhóm vc đúng là đang di chuyển về hướng Mộc Hóa. Trung sỹ Terry lệnh qua Chuyên báo động toàn tiểu đội, mọi người sẵn sàng nằm im chờ lệnh, sau trái M79 của Terry bắn về phiá vc phát nổ tung toé, toàn bộ tiểu đội biệt kích khai hoả với tất cả hoả lực về phía trái M79 vừa rớt xuống.
Phía vc hoàn toàn không bắn trả, qua ống kính nhìn đêm Terry thấy lố nhố bóng vc chạy ngược vào trong rừng cây, Terry đưa ống kính đêm cho Chuyên cùng nhìn, anh ta cầm ống kính quan sát một hồi, Terry nhìn thấy trên môi Chuyên nở nụ cười kỳ quái, tuy lạ nhưng Terry cũng không lưu tâm mấy!

Khi Terry gọi về căn cứ để xin hoả lực pháo binh tiêu diệt địch, máy truyền tin không kiên lạc được, chỉ có tiếng ''rè rè'' trong ống liên hợp. Trung sỹ Terry quyết định truy kích địch cho dù không có pháo binh yểm trợ, toàn bộ tiểu đội tràn lên rượt theo vc vào đến bià rừng, đội hình toán biệt kích trải dài kề nhau và trút hết tất cả hoả lực họ mang theo, bắn đuổi theo những bóng du kích đang rút chạy sâu vào trong bóng tối. Terry nằm giữa với Chuyên bên trái, bên kia là một biệt kích người Thượng, lúc này Terry mới để ý là Chuyên không hề bắn một phát đạn nào, khẩu súng vất nằm lăn lóc kế bên, sau trận đánh khi được hỏi, Chuyên giải thích là súng bị hóc đạn nên không bắn được, Terry nghe vậy rồi cũng không hỏi gì thêm.
Trong khi đó ở căn cứ hoả lực, hạ sỹ Mesa khi thấy hướng tiểu đội biệt kích đi hành quân tiếng súng nổ ran và các vệt lửa đạn văng tứ tung lên trời, biết chắc là toán biệt kích chạm súng với địch, nhưng khi cố liên lạc qua máy truyền tin không được trả lời, đoán là Terry có thể đã chết hay bị thương, Mesa liên lạc với hậu cứ xin chỉ thị. Cùng lúc này, phiá vc tổ chức phản công với hoả lực rất mạnh, toán biệt kích không thể rút về hướng hậu cứ, Terry ra lệnh toàn bộ tiểu đội rút ngược ra khỏi khu bià rừng chặn hướng về Mộc Hóa và tổ chức phòng thủ chờ trời sáng, trong suốt toàn bộ trận đánh Chuyên luôn tỏ ra rất bình thản.
Mesa với hy vọng giải cứu nhóm biệt kích đã cố gắng dùng hoả lực súng cối, bắn vào những toạ độ đánh dấu trước trận phục kích và vài loạt đạn vào rặng cây ven rừng, toán biệt kích nằm im trong bóng đêm lặng lẽ nhìn đạn cối nổ từ xa và súng đạn luôn sẵn sàng nổ vào bất cứ bóng vc nào rút chạy về hướng họ đang phục kích. Sáng hôm sau khi tiểu đội về lại căn cứ hoả lực Mesa phát hiện ra chiếc máy truyền tin của nhóm phục kích bị ai đó vặn chuyển tần số khác!

Chiến dịch Gamma.
Năm 1969, can thiệp của quân đội Mỹ càng ngày càng sâu vào chiến tranh VN trong đó, dưới sự chỉ huy của Liên Đoàn 5 LLDB Hoa Kỳ, đã có khoảng 80 toán A được thành lập rải rác trên khắp miền Nam, lực lượng mà sau này là những mũi nhọn trong các công tác đặc biệt của cuộc chiến chính thức và không chính thức trong cuộc chiến VN, lực lượng này đã sống, làm việc, hướng dẫn, chiến đấu và thậm chí cùng chết với những chiến binh bản địa. Một trong những nhiệm vụ chính là thu lượm tin tình báo, theo tính toán có hơn 50% tin tình báo hàng ngày trong chiến tranh là đến từ các đơn vị biệt kích.
Nhiều biệt đội thậm chí nắm rõ từng tên tuổi, vùng hoạt động của du kích và khi cần họ lặng lẽ truy lùng và tiêu diệt đối phương. Để bảo mật nhiệm vụ thu thập tin tình báo, một số sứ mệnh, hoạt động bí mật của tình báo sẽ được thành lập và đặt tên mật mã như tất cả các chiến dịch khác, tên của chương trình này được bộ chỉ huy liên đoàn 5 LLDB và CIA đặt tên là "chiến dịch Gamma".

Chương trình thu thập tình báo bí mật đơn phương nhắm vào quân đội Bắc Việt và mục tiêu là tiêu diệt các cơ sở của Việt Cộng ở Campuchia, bao gồm cả chính quyền Căm Bốt đang hỗ trợ cho vc. Bản thân chương trình phải rất bí mật vì nó liên quan đến những phản ứng quốc tế nếu bị tiết lộ, hậu quả từ các cuộc ném bom chiến lược B-52 bí mật đã được tiến hành tại biên giới Campuchia vào thời đó nhằm tiêu diệt cơ sở cộng sản. Nếu chương trình này bị phát hiện, những hậu quả về mặt chính trị ở Hoa Kỳ và những nước đồng minh sẽ rất nghiêm trọng.
Các chiến binh biệt kích hoạt động trong chương trình Gamma hoạt động dưới các vỏ bọc dân sự như: chuyên gia chiến tranh tâm lý, xã hội. Các toán A được đặt dọc theo biên giới Campuchia, 5 toán thu thập tin đã xây dưng được 13 mạng lưới tình báo gồm 98 điệp viên dưới các bí danh nhằm cung cấp tin tức.
Mạng lưới tình báo này, vào 10/68 khi tổng kết, đã cung cấp 65% tin tình báo cho biết về thực lực, địa điểm đóng quân của các lực lượng Bắc Việt trên đất Campuchia, hơm 75% nguồn tin như thế về lực lượng Bắc Việt hoạt động trong lãnh thổ VN. Chương trình được đánh giá là thành công và hiệu qủa nhất của Hoa kỳ tại Đông nam Á, phiá Bắc Việt đã không hề biết gì về chiến dịch Gamma này. Cho đến đầu năm 1969, Biệt đội B-57 Thạnh Trị, đơn vị quản lý các toán biệt kích A nhận thấy rất nhiều các đầu mối gián điệp quan trọng cung cấp tin tình báo qúy giá ngày càng bị biến mất một cách bí ẩn, theo suy diễn chắc chắn trong nội bộ chương trình có điệp viên hai mang hoạt động cho cộng quân. Chương trình Gamma có thể bị phá hoại hoàn toàn từ tên gián điệp vc nào đó chui vào trong hệ thống của biệt kích.

Thái khắc Chuyên.
Ngày 15/10/1968, Trung sỹ Peter Sands bí danh là Alvin Smith nhận nhiệm sở tại B-41 đóng ở Mộc Hoá (Các toán B là đơn vị chỉ huy của những toán A). Một tuần sau, Chuyên xin vào làm thông dịch viên và từ đó Sands và Chuyên thành đôi bạn thân, Sands đồng thời cũng là chỉ huy trực tiếp của Chuyên trong công tác.

(Sinh năm 1938 tại miền Bắc, Thái Khắc Chuyên là con ông Thái Khắc Qui và bà Thái Thị Lục. Năm 1954, gia đình Chuyên di cư vào Nam, do thương nhớ ba đứa con trai và hai đứa con gái còn ở lại miền Bắc nên bà Lục quay về Bắc).
Vì tổn thất trong chiến đấu, nhiều thông dịch viên của các toán A bị chết và bị thương nên cần bổ xung, Thái khắc Chuyên được biệt phái đến B-57 Thạnh Trị nhằm bổ xung chỗ thông dịch viên đang thiếu.
3/3/1969, Sands gởi yêu cầu sưu tra lý lịch với tên Chu Yên Thái Khắc, vài ngày sau báo cáo cho thấy "không có lưu trữ" suy ra lý lịch Chuyên không có vấn đề gì. Tuần sau đó, Chuyên được lăn tay, chụp hình và chính thức nhận mật danh hoạt động SF7-166, làm việc cho CIA. Điều đáng chú ý là Sands đã không hề yêu cầu Chuyên tiến hành thử qua máy nói dối. Thêm nữa, trong khi không hề có ghi chép nào về nghề nghiệp và học vấn nhưng Chuyên nói tiếng Anh lưu loát đến độ mọi người phải ngạc nhiên.
Vào 10/5/1969, trong một trận đột kích vào chiến khu bên kia biên giới Campuchia khu Mỏ Vẹt, biệt kích thu được nhiều tài liệu trong đó có một số hình chụp, sau khi đưa cho Sands nhận diện, xác nhận người trong hình chụp với một nhóm cán binh Việt cộng đúng là Chuyên đứng cạnh một sỹ quan Bắc việt.
Với kết luận Chuyên là gián điệp vc, chỉ huy đơn vị biệt kích ra lệnh thủ tiêu Thái khắc Chuyên, Chuyên bị chích thuốc mê, mang ra ngoài khơi Nha Trang bắn chết, cột niềng xe và thẩy xuống biển phi tang.

Sau cái chết của Chuyên, Sands tự thấy không an toàn nên đã chạy vào trụ sở CIA tố cáo vụ thủ tiêu này. Vụ giết Thái Khắc Chuyên đến tai tướng Abrams, Tư lệnh MACV. Theo luật của quân đội Mỹ, không ai có quyền đơn phương xử tử nghi can nên tướng George Marbry, phụ tá tình báo thừa lệnh Abrams ra quyết định bắt giam những nhân vật chủ chốt và những người liên quan đến vụ Thái Khắc Chuyên, gồm Brumley, Boyle, Marasco, Williams, Middleton, Crew, Ken Facey, Kautson, Wayne Ishimato. Riêng trung sĩ Sands bị bắt và bị dẫn độ về Sài Gòn một mình vì Sands là nhân chứng rất quan trọng. Theo lời khai của Sands, người chủ mưu chính trong vụ giết Thái Khắc Chuyên là đại tá Rheault, Chỉ huy trưởng biệt kích.
Phiên tòa xét xử vụ Thái Khắc Chuyên diễn ra ở căn cứ Long Bình vào tháng 8/1969. Vì thiếu chứng cứ và lý do chính trị, cùng với sự can thiệp của tổng thống Nixon vụ xử đã không tiến hành, các bị can được trả tự do. Liên Xô lợi dụng sự việc nầy phát động chiến dịch tuyên truyền rầm rộ. Đài phát thanh Moscow, Hà Nội tố cáo lực lượng biệt kích Mỹ là những kẻ tâm thần, cướp bóc, các nhóm chống chiến tranh đã nhân vụ này làm rùm beng lên về việc Mỹ can thiệp trong chiến tranh Việt Nam, sau này vụ việc được gọi tên "The Green Beret Affair" tức vụ tai tiếng mũ nồi xanh.
Kết:
Sau 1975, vợ của TKChuyên là Phan Kim Liên và hai con trai sống trong khó nghèo, cô quạnh ở Sài gòn. Các anh trai của Chuyên kẹt lại Bắc Việt cũng chỉ là dân bình thường của chế độ như bao nhiêu tín đồ Thiên Chúa giáo khác. Vào tháng 8/1991, con trai cả của Thái Khắc Chuyên là Thái Quốc Việt vẫn tin cha mình còn sống, có viết thư cho ký giả J. Stein hỏi về số phận của cha mình và thú nhận: ‘’thật khó sống với những năm tháng dài ngờ vực. . .’’.
Cho tới hôm nay, không ai biết sự thật của câu chuyện!

Saturday, June 13, 2020

TƯỞNG NIỆM GIÁM ĐỐC SỞ TÌNH BÁO XÂM NHẬP MIỀN BẮC PHAN QUANG ĐÔNG BỊ NHÓM LOẠN TƯỚNG XỬ TỬ HÌNH

 Comment của Phiêu Lê

Vụ xử bắn đại uý Phan quang Đông ở Huế năm 1964 sau khi lật đỗ TT Ngô đình Diệm, lúc đó tôi 13 tuổi đã tận mắt chứng kiển ở sân vận động, đại uý mặc áo trắng muốt bỏ trong quần tây xám, giầy đen, từ lúc bước xuống xe (đã bị bịt mắt) dẫn tới ngổi trên hai tầng bao cát (một dựng sau lưng) ông liên tục nhép miệng đọc kinh Thánh cho đến lúc 10 tay súng nổ đồng loạt (lính) ông nghiêng người qua bên phãi, một người lính bước tới dùng súng lục bắn vảo thái dương, ông giật nhẹ vả nghiêng đầu máu chãy thành dòng, ngoài tiểng súng nổ mọi diễn tiến xảy ra trong yên lặng đến rợn người (kể cả nạn nhân và người chứng kiến) cuộc xử bắn có vợ ông mặc áo dải tím chứng kiến, thi hài còn nóng hổi và máu vẫn còn chảy trông như đang bốc khói được bỏ vô hòm để kế bên. Về sau tôi có đọc mấy bải viết về lý lịch của đại uý Đông, sau khi ông chết, anh em biệt kích đang hoạt động ngoài Bắc trở thành rắn mất đầu rất thảm hại và lãnh đạo miền Bắc được lời to sau cái chết của đại uý Đông, đã 57 năm rồi mà hình ảnh này tôi vẫn còn nhớ rõ và rất thương đại uý đã ám ảnh tôi mãi khi lớn lên và vô lính, mong ai biết rõ hơn nội tình xin góp ý thêm, trong bài viết dưới đây nói ông Phan quang Đông bị trói tay vô cột là không đúng (không bị trói tay) và lúc đó ở Huế gọi là đại uý chứ không phải trung uý.


Ông Phan Quang Đông tên thật là Phan Quang Tùng, sinh năm 1929, tại làng Lệ Định, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Trong thời niên thiếu ông được gia đình gởi vào học trường Peleren của Dòng Lasan tại Huế.
Ông Phan Quang Đông cao khoảng 1.65 m, nước da ngâm ngâm, cười rất có duyên, và là con người hết sức đạo đức. Ít nói và không bao giờ to tiếng với bất cứ ai.
1951-1953 ông là giáo Sư Việt văn tại trường Trung học Thiên Khải Đường, thuộc Nghi Lộc, Đông Thái, Vinh, thuộc tỉnh Nghệ An.
Vào khoảng tháng 10/1953 ông Phan Quang Đông cùng với một số bà con, bạn bè như Phan Quang Điều, Phan Văn Chính, Phan Bình Phúc, Phan Văn Luận, và Phạm Nho tức Phan Hồng Xuân tổ chức vượt biên giới qua Lào vào Nam Việt Nam. Lần đầu bị thất bại, và lần thứ hai họ may mắn gặp một đơn vị tiền phương của quân đội Pháp trong vùng rừng núi Lào phát hiện. Quân Pháp đã bắt ông Phan Quang Đông cùng 5 người bà con, bạn bè của ông ta đưa về đồn Nape, rồi đưa về Savanakhet, và sau đó đưa về Vientien thủ đô của Lào để phòng 2 quân đội Pháp điều tra. Sau mấy ngày điều tra, tất cả được trả tự do, riêng ông Phan Quang Đông lại được phòng 2 của quân đội Pháp tuyển dụng.
Khoảng tháng 4 năm 1954 tất cả được Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa đón về nước.
Cuối tháng 6/1954 Ông Phan Quang Đông tức Phan Quang Tùng động viên vào Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Đang trong khóa học, thì người bạn học cùng trường Pellerin thuở xưa là Bác Sĩ Trần Kim Tuyến hiện là Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng Thống đã đưa ông Phan Quang Đông từ quân Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức đi huấn luyện khóa tình báo ở ngoại quốc và vào năm 1956 sau khi trở về được đồng hóa cấp bậc Trung Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cũng từ đó họ tên Phan Quang Tùng vĩnh viễn không còn nữa mà là Phan Quang Đông.
1957, Trung Úy Phan Quang Đông được Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng Thống bổ nhiệm làm Giám Đốc một cơ quan tình báo “Tối Mật” tại Huế với tên danh xưng là: Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Địa Lý.
Vị sĩ quan trẻ Phan Quang Đông vừa trí thức vừa có tinh thần quốc gia và lòng yêu thương quê hương cao độ. Đặc biệt là ông không khoan nhượng với cộng sản Bắc Việt.
Trụ sở của cơ quan tình báo “Tối Mật” đặt tại số 9 Đường Lê Lợi thuộc Quận III Thị xã Huế, cạnh bờ sông Hương và sát cạnh Tòa Đại Biểu Chính Phủ. Trụ sở nằm đối diện với tư dinh vị Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên-Huế.
Nhiệm vụ của cơ quan tình báo tối mật nầy là:
1)- Thiết lập một đài kiểm thính đặt tại Huế để kiểm soát mọi điện đàm và mọi công điện mật của các giới chức cao cấp dân sự cũng như quân sự của chính phủ Bắc Việt.
2)- Kiểm thính, bắt chận tất cả các điện tín mật, tối mật của các cơ quan tình báo dân sự và quân sự từ chính phủ Bắc Việt gởi vào cho Cục R Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và các điệp viên cộng sản đang hoạt động tại miền Nam Việt Nam.
3)- Phát hiện mọi điều động và di chuyển của các đơn vị quân sự địch từ bắc vào nam, gồm quân số và vũ khí từ miền Bắc vào đến miền Nam dọc dãy Trường Sơn và đường biển.
Đài kiểm thính nầy đặt tại Phú Bài. Đài có 20 chuyên viên Đài Loan và Việt Nam. Đài được điều hành bởi một Trung Tá thuộc quân đội Đài Loan, nằm dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Trung Úy Phan Quang Đông, Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Địa Lý.
Trong việc thiết lập đài kiểm thính miền Bắc, chính phủ của Tổng Thống Diệm đã gặp trở ngại lớn với chính phủ Hoa Kỳ. Đó là khi chính phủ Việt Nam yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ viện trợ thiết lập cho Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa một đài kiểm thính tối tân để theo dõi mọi hoạt động của chính phủ cộng sản miền Bắc, chính phủ Hoa Kỳ đã từ chối lời yêu cầu nầy. Ngược lại họ yêu cầu cho họ tự thiết lập một đài kiểm thính đặt tại Huế, do họ và chuyên viên của họ tự điều hành.
Việt Nam Cộng Hòa bị Hoa Kỳ từ chối viện trợ thiết bị và chuyên viên huấn luyện, nên buộc lòng phải vận động quốc gia thân hữu Đài Loan (Republic Of China) mua dụng cụ và thuê chuyên viên Đài Loan huấn luyện cho chuyên viên Việt Nam thiết lập và điều hành đài kiểm thính miền Bắc.
4)- Gởi các điệp viên ra miền Bắc, với nhiệm vụ thu lượm tin tức tình báo chiến lược quân sự cũng như dân sự. Họ có điện đài lưu động, bí mật đặt tại các nhà an toàn tại Hà Hội và các nơi khác. Vào giờ khuya các điệp viên chuyển tin về Bộ Chỉ Huy Sở Nghiên Cứu Địa Lý tại Huế.
5)- Tổ chức các phong trào quần chúng nổi dậy tại các đô thị miền Bắc nhằm lật đổ chế độ cộng sản miền Bắc. Vụ đồng bào Quỳnh Lưu, Nghệ An, nổi dậy vào năm 1957 là một ví dụ điển hình cho công tác của đoàn Nghiên Cứu Địa Lý của ông Phan Quang Đông.
6)- Ngăn chận và vô hiệu hóa các gián điệp của Bắc Việt đưa vào hoạt động tại miền Nam qua ngã sông Bến Hải, hoặc qua ngã đường bộ rừng núi Trường Sơn, hoặc đường biển xuất phát từ bờ biển thuộc vùng biển Do Linh, hoặc từ bờ biển các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
7)- Trong tất cả mọi công việc, cơ quan Nghiên Cứu Địa Lý của ông Phan Quang Đông đều phúc trình về sở Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng Thống để trình lên Tổng Thống Diệm và ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Phúc trình bao gồm mọi tin tức mà Sở Nghiên Cứu Địa Lý tại Huế thâu nhận được về chính sách, chủ trương đường lối của chính phủ Hà Nội đối với Việt Nam Cộng Hòa.
Tóm lại sở Nghiên Cứu Địa Lý tại Huế do Ông Phan Quang Đông chỉ huy là một cơ quan Tình Báo Chiến Lược của Việt Nam Cộng Hòa đối đầu với cơ quan Tình Báo Chiến Lược của cộng sản miền Bắc. Ông Phan Quang Đông và cơ quan tình báo của ông không hề và cũng chẳng có trách nhiệm gì với phong trào tranh đấu Phật Giáo tại Huế, cũng như biến cố tai nạn tại đài phát thanh Huế vào đêm 8 tháng 5 năm 1963 (Lễ Phật Đản 1963).
Theo ông Nguyễn T. H., nguyên bí thư của ông Phan Quang Đông, thì trong ngày 2/11/1963 sau khi hay tin Tổng Thống Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đã bị đám loạn tướng hạ sát, ông Phan Quang Đông đã chỉ thị cho ông Nguyễn T. H.:
1)- Đánh điện khẩn cấp cho số điệp viên đang hoạt động ngoài miền Bắc biết rõ tình hình hiện tại tại miền Nam, đồng thời cho lệnh khẩn cấp họ rời khỏi địa bàn hoạt động rút toàn bộ về Nam qua ngã Lào.
2)- Thủ tiêu, hoặc bí mật cất dấu các tài liệu mật, tối mật, liên quan đến các điệp viên, công tác, chiến dịch, ngoài miền Bắc để khỏi lọt vào tay địch gây nguy hại sinh mạng cho anh em.
Ngày 3/11/1963, Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn I, ra lệnh bắt giữ ông Phan Quang Đông và lục soát cơ quan tình báo của ông ta tại một căn nhà nằm trên bờ sông Hương, đối diện với tư thất ông Tỉnh Trưởng. Ông Phan Quang Đông đã nói với viên sĩ quan trưởng toán đến bắt ông ta rằng: – Thiếu úy vui lòng cho tôi gặp Thiếu Tướng Đỗ Cao Trí, cơ quan chúng tôi có một số công việc tối quan trọng phải bàn giao với Thiếu Tướng Trí trước khi tôi rời nhiệm sở nộp mình cho các ông.
Viên sĩ quan trưởng toán bằng lòng, và sau đó cuộc gặp gỡ được diễn ra chỉ có 3 người: Thiếu Tướng Đỗ Cao Trí, Ông Phan Quang Đông, và ông Nguyễn T. H. tức bí thư của ông Phan Quang Đông. Cuộc gặp rất ngắn ngủi và nội dung như sau:
Ông Phan Quang Đông: -Tôi là Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Địa Lý kiêm Giám đốc Đài Kiểm Thính miền Bắc. Cơ quan chúng tôi trực thuộc Sở Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng Thống. Công việc của chúng tôi là những điệp vụ ngoài miền Bắc, hoàn toàn không liên hệ dính dấp gì đến nội tình chính trị tại miền Nam. Hiện tại chúng tôi có một số nhân viên đang hoạt động ngoài đó. Tôi đã đánh điện thông báo cho họ biết tình hình hiện tại tại miền Nam và đã ra lệnh cho họ rời bỏ địa bàn hoạt động rút về Miền Nam theo ngã Lào. Trước khi nộp mình cho Thiếu Tướng, tôi có những yêu cầu không cho cá nhân tôi mà cho công việc chung xin Thiếu Tướng lưu tâm và giúp cho:  
1)- Đây là hồ sơ, tài liệu, mật mã, máy móc truyền tin liên lạc, xin giao lại cho Thiếu Tướng. 
2)- Một số lớn anh em, những điệp viên của chúng ta. Trước đây tôi tung họ ra hoạt động ngoài Bắc, nay vì tình hình đặc biệt tôi đã báo cho họ biết và đã ra lệnh cho họ rút về theo ngã Lào, tôi xin Thiếu Tướng lo lắng giúp đỡ họ. 
3)- Tại Chín Hầm, cơ quan tình báo của chúng ta hiện đang giam giữ một số cán bộ cao cấp Việt Cộng. Trong những ngày đến, cho dù tình huống chính trị có biến đổi như thế nào đi nữa, thì cũng xin Thiếu Tướng lưu ý cho, một trong những tên việt cộng cao cấp nầy không thể thả được, bằng không, an ninh của miền Nam sẽ nguy hại vì tên nầy.
Tôi nhớ không lầm, theo Nguyễn T. H., tên việt cộng cao cấp đó là Mười Hương. Đây là nhân vật mà cơ quan an ninh Việt Nam Cộng Hòa dùng làm vật trao đổi với cộng sản Bắc Việt trong trường hợp có viên chức cao cấp và quan trọng của Việt Nam Cộng Hòa bị Việt Cộng bắt. Đặc biệt là ông Ngô Đình Cẩn vì ông ta có thú giải trí là đi câu cá và không bao giờ nghe lời khuyên của cơ quan an ninh nơi nào đi được và nơi nào không nên đi.
Và sau cuộc bàn giao ngắn ngủi đó, ông Phan Quang Đông tự nộp mình cho Tướng Đỗ Cao Trí. Ông bị đám phản loạn tống giam và chờ ngay ra “Tòa Án Cách Mạng” của bọn chúng do Tướng Nguyễn Khánh thành lập. Viên bí thư Nguyễn T. H., cùng toàn bộ nhân viên của Sở Nghiên Cứu Địa Lý và một số hồ sơ “Mật”, “Tối Mật” cũng đã biến mất, nhưng chắc chắn một trăm phần trăm không lọt vào tay địch.
Tướng Đỗ Cao Trí, vì sợ Thích Trí Quang và đám Tăng lữ Phật Giáo Việt Cộng Ấn Quang tại Huế, đã không làm tròn bổn phận của một cấp chỉ huy có trách nhiệm đối với thuộc cấp và trọng trách đối với nền an ninh quốc gia. Ông đã không giữ đúng lời cam kết với ông Phan Quang Đông:
– Số Điệp viên hoạt động ở ngoài Bắc
Họ đã không còn nhận được một chỉ thị nào của Trung Ương ngoài chỉ thị cuối cùng của ông Phan Quang Đông. Một số đã vượt thoát qua đường Lào tìm về miền Nam, số không vượt thoát được, kẻ thì bị địch bắt, người không bị bắt thì quên dĩ vãng sống trong vùng địch chờ ngày… thật quá đau đớn!
– “Quý Thầy” bị “Mật vụ Nhu Diệm” giam tại Chín Hầm
Đầu tiên xin được nói về địa danh Chín Hầm. Chín Hầm là một địa danh nằm về phía tây nam thành phố Huế. Mặt trước của Chín Hầm tiếp giáp với mặt sau của dòng tu Thiên An. Phía bên mặt của địa danh Chín Hầm tiếp giáp với mặt sau lăng vua Khải Định và làng Châu Chữ thuộc quận lỵ Nam Hòa, nhưng địa danh Chín Hầm thuộc quận lỵ Hương Thủy. Năm 1944-1945 quân đội Nhật đã xây 9 hầm chứa đạn tại đây. Sau đó khi quân đội Nhật đầu hàng, lực lượng quân đội Pháp lại dùng 9 hầm nầy vừa làm kho chứa đạn vừa làm những hầm đóng quân bảo vệ an ninh phía tây nam thành phố Huế chống lại du kích Việt Minh. Đến thời Đệ I Việt Nam Cộng Hòa, 2 trong 9 ngôi hầm đó được sửa sang lại thành trại giam và là nơi các cơ quan an ninh tình báo, khi bắt được những tên cán bộ cao cấp cộng sản, thường giam giữ tại đây để bảo mật nhằm tránh khỏi sự dòm ngó tìm tòi của địch.
Ác tăng việt cộng Thích Trí Quang đã theo chỉ thị của cơ quan tình báo Việt cộng giải thoát đám cán bộ cộng sản cao cấp bị giam tại Chín Hầm bằng một kế hoạch hết sức ngoạn mục. Như đã biết, Huế, chỉ sau một ngày cuộc phản loạn thành công, ác tăng việt cộng Thích Trí Quang cho lệnh đám cơ sở việt cộng nằm vùng trong mọi tầng lớp dân chúng và Phật tử ở Huế, từ học sinh sinh viên, công chức, quân nhân, cảnh sát, và tiểu thương chợ Đông Ba, An Cựu, Bến Ngự cùng nhau đổ xô ra đường biểu tình hoan hô “Cách Mạng” thành công, và truy lùng “Mật Vụ Nhu Diệm Ác Ôn”. Cuộc giải cứu đám việt cộng cao cấp tại Chín Hầm được chia làm hai giai đoạn: 
1)- Ác tăng việt cộng Thích Trí Quang cho lệnh cơ sở việt cộng tại Huế lén đưa áo cà sa và dao cạo vào nhà giam Chín Hầm cho đám cán bộ cao cấp việt cộng hiện bị giam giữ tại đó. Đám việt cộng cao cấp nầy cạo đầu láng bóng và mặc áo cà sa vào. Trong phút chốc chúng trở thành các quý thượng tọa ngồi đợi ác tăng việt cộng Thích Trí Quang cho lực lượng đến giải thoát. 
2)- Lời kêu gọi của Ác tăng Việt cộng Thích Trí Quang được tung ra tại Huế: “Quý Thầy bị Mật Vụ Nhu Diệm giam tại Chín Hầm. Yêu cầu đồng bào, Phật tử, giải cứu quý Thầy”.
Thế là một cuộc hành quân hỗn tạp của học sinh, sinh viên Phật tử, tiểu thương chợ Đông Ba, Phật tử các khuôn hội, và đám việt cộng thầy chùa Ấn Quang ùn ùn kéo lên Chín Hầm. Bọn chúng đã phá cửa nhà giam rước “Quý Thượng Tọa” ra ngoài. “Quý Thượng Tọa Việt Cộng” thằng nào cũng đầu trọc láng cóng khoát áo cà sa mới toanh. Còn đám biểu tình, lực lượng giải cứu “quý Thượng Tọa Việt Cộng” bị “Mật Vụ Nhu Diệm” giam giữ thì nhào vào ôm quý Thầy mừng mừng tủi tủi. Trong đó có nhiều nữ Phật tử và tiểu thương chợ Đông Ba ôm chặt “Quý Thầy Việt Cộng” khóc lóc, sụt sùi, ôi! Thật thê thảm làm sao, nhưng mà mấy bà, mấy cô ôm chặt “Quý Thầy Việt Cộng” chặt quá, không hiểu “Quý Thầy” có động lòng tà dâm không hỉ?
Sau màn trình diễn đầy cảm động đó “Quý Thượng Tọa Việt Cộng” lên xe của giáo hội về chùa Từ Đàm. Rồi chỉ một vài ngày sau, tất cả đều biến mất khỏi chùa Từ Đàm, bọn chúng đi đâu?
Bọn khốn nạn việt cộng đã trở lại mật khu, theo chỉ thị của Hồ tặc, tiếp tục “sự nghiệp chống Mỹ Ngụy cứu nước”. Ác tăng việt cộng Thích Trí Quang và đám thầy tu việt cộng Ấn Quang đã lập công lớn với “bác và đảng” của chúng trong cuộc hành quân hỗn độn. Chúng đã giải cứu thành công các đồng chí việt cộng cao cấp đã bị “Mật Vụ Nhu Diệm” bắt giam vì “kỳ thị đàn áp Phật Giáo”!
Trở lại trường hợp Trung Úy Phan Quang Đông. Sau khi bàn giao cho Trung Tướng Đỗ Cao Trí cơ quan tình báo “Sở Nghiên Cứu Địa Lý”, Trung Úy Phan Quang Đông nộp mình và bị Tướng Đỗ Cao Trí tống giam chờ ngay ra tòa.
Tòa án “Cách Mạng” của đám loạn tướng đã được mở tại Huế để xử “tội nhân” Trung Úy Phan Quang Đông. Bọn chúng gạn ép vu khống nhiều tội để giết chết ông Đông và truy bắt tất cả các nhân viên và các điệp viên của cơ quan tình báo nầy theo lệnh tên ác tăng việt cộng Thích Trí Quang và đám thầy tu việt cộng nằm trong Phật giáo Ấn Quang.
Theo lời kể của bà Nguyễn Thúy Toan phu nhân của ông Phan Quang Đông, trong thời gian “tòa Cách Mạng” đang xử ông Phan Quang Đông thì bà đang mang thai bé gái Phan Diễm Ly, rằng bà đã đi gặp Tướng Nguyễn Chánh Thi và xin ông Thi giúp đỡ, Tướng Nguyễn Chánh Thi cho bà biết: “Vụ án nầy, chuyện sống chết của chồng bà, ông Phan Quang Đông hoàn toàn nằm trong tay của Thượng Tọa Trí Quang, chứ tôi vô thẩm quyền. Bà nên xin gặp Thượng Tọa Trí Quang. Nếu Thượng Tọa Trí Quang bằng lòng tha cho chồng bà thì tôi sẽ ra lệnh thả chồng bà ngay”.
Bà Nguyễn Thúy Toan sau nhiều khó khăn mới được gặp Ác Tăng Việt Cộng Thích Trí Quang, Ác Tăng Trí Quang đã từ chối và trả lời với Phu Nhân của ông Phan Quang Đông như sau: “A Di Đà Phật, tôi là người tu hành không biết gì về chính trị cả, việc nầy là việc của chính phủ”.
Và tại lao xá Thừa Thiên nơi bọn chúng giam Trung Úy Phan Quang Đông, vào 15 giờ 30 phút ngày 28 tháng 3 năm 1964, ngày thứ Bảy, ông Phan Quang Đông đã gởi bức thư tuyệt mạng đầu tiên cho bà Phan Quang Đông (Bức thư dài 21 trang, trích thư đính kèm) xin trích vài hàng đầu:
“Em Thúy Toan người vợ hiền yêu quý nhất đời anh. Em ơi, tòa án Cách mạng vừa xử anh tử hình. Anh cố nuốt lệ viết cho em, trăn trối cùng em vì ngày giờ của anh trên đời đã đếm trên đầu ngón tay rồi.…….. Em ơi! Anh sẽ chết… và mỗi người đều phải chết. Anh đang chờ cái chết đây. Anh không sợ cái chết khi cái chết có một ý nghĩa. Cái chết của các thánh tử đạo trước lưỡi gươm của đao phủ, cái chết của người chiến sĩ trước giặc cộng, cái chết cho lý tưởng minh theo đuổi…” Hết trích.
phanquangdong_thu_vietchovotrongtu
Và ngày 9 tháng 5 năm 1964 hồi 12 giờ 45 trưa, những lời cuối cùng mấy phút trước khi ra pháp trường của Trung Úy Phan Quang Đông đã viết cho người vợ yêu quý như sau (đính kèm bức thư):
phanquangdong_thu_truocgioraphaptruong 
“Thúy Toan yêu quý
Anh dâng tất cả cho em và 2 con. 
Ký tên: Phan Quang Đông.
Hôn em và 2 con muôn vàn lần. 
Ký tên: Phan Quang Đông. Tùng.
12g45 ngày 9/5/64 tức là 28/3 âm lịch năm Giáp Thìn
Anh cầu nguyện nhiều cho em và 2 con và cảm tạ mẹ Lộ Đức và La Vang đã chọn em làm vợ cho anh.
Ký tên: Phan Quang Đông.”
Năm mươi năm đã trôi qua, nỗi oan khiên ngút tận trời xanh của người chiến sĩ điệp báo, Trung Úy Phan Quang Đông, vẫn còn đó. Lịch sử đã bị bóp méo. Công lý và công bằng đã bị che lấp bởi đảng cộng sản Việt Nam và:
1)- Đám tăng lữ việt cộng thuộc nhóm Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất: Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu, Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Thiện Siêu, Thích Minh Châu, Thích Nhất Hạnh, Thích Thiện Minh, Thích Hộ Giác, Thích Trí Siêu tức Lê Mạnh Thát, Thích Tuệ Sĩ v.v…
2)- Đám trí thức việt gian, cộng sản trong viện Đại Học Huế: Bác sĩ Lê Khắc Quyến, Cao Huy Thuần, Tôn Thất Hanh, Lê Văn Hảo, Lê Tuyên, Hoàng Văn Giàu và quá nhiều…
3)- Đám tướng tá phản loạn: Theo thứ tự hàng 1 được điểm danh như sau: Tướng Trần Văn Đôn, Tướng Trần Thiện Khiêm, Tướng Tôn Thất Đính, Tướng Đỗ Mậu, Tướng Nguyễn Khánh, Tướng Lê Văn Kim, Tướng Dương Văn Minh, Tướng Đỗ Cao Trí, và Tướng Nguyễn Chánh Thi.
Hơn ai hết đám tướng lãnh nầy biết rõ Trung Úy Phan Quang Đông, Trưởng cơ quan tình báo “Sở Nghiên Cứu Địa Lý” là một cơ quan Tình Báo Chiến Lược của Việt Nam Cộng Hòa. Trách nhiệm và bổn phận của Trung Úy Phan Quang Đông là gởi các điệp viên ra hoạt động tại miền Bắc, để thu thập các tin tức tình báo chiến lược dân sự cũng như quân sự và tổ chức các cuộc nổi dậy của quần chúng tại các đô thị lớn ở miền bắc.
Qua đài kiểm thính đặt tại Phú Bài, Huế, Trung Úy Phan Quang Đông còn có những nhiệm vụ tình báo kỹ thuật khác. Chẳng hạn như phát hiện mọi di chuyển của các đơn vị chính quy Bắc Việt xâm nhập miền Nam, các cuộc điện đàm hoặc liên lạc vô tuyến của các đơn vị quân sự địch và của các giới chức cao cấp Hà Nội với cục R Giải Phóng Miền Nam, hoặc với Bộ Chỉ Huy Miền của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Trung Úy Phan Quang Đông và cơ quan tình báo của ông ta hoàn toàn không dính dấp đến mọi hoạt động chính trị và an ninh nội chính dù nhỏ dù lớn nào tại miền Nam cả. Đám tướng lãnh phản loạn biết rõ điều đó. Vậy mà bọn họ, vì áp lực của tên ác tăng cộng sản Thích Trí Quang và vì sợ mất quyền cao chức trọng, đã tán tận lương tâm, đánh mất lòng lương thiện tối thiểu, hèn hạ, cúi đầu nghe lệnh của ác tăng cộng sản Thích Trí Quang. Ông Đại Tướng Nguyễn Khánh, Thủ Tướng chính phủ cho lệnh Bộ Trưởng Tư Pháp Nguyễn Văn Mầu ban hành một bộ Hình Luật mới để có thể quy tội tử hình và thành lập “Tòa Án Cách Mạng” đem Trung Úy Phan Quang Đông ra xử “tội chết vì là Mật Vụ Nhu Diệm, Đàn Áp Phật Giáo”.
Khi rời ghế nhà trường, rời bỏ đời sống dân sự, dấn thân vào cuộc chiến bảo vệ quê hương, bảo vệ đồng bào, những người lính Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi, trong đó Trung Úy Phan Quang Đông, đã chấp nhận đem xương trắng máu đào để bảo vệ non sông Việt Nam.
Chuyện sống, chết, đến với chúng tôi những người lính Việt Nam Cộng Hòa là lẽ thường tình. Thế hệ ông cha chúng tôi, thế hệ chúng tôi, và thế hệ đàn em chúng tôi đã có hằng hằng lớp lớp người lính Việt Nam Cộng Hòa ngã xuống dưới lằn đạn quân thù. Thế nhưng trường hợp của Trung Úy Phan Quang Đông lại ngã xuống vì chính những tên thầy tu Phật giáo, đồng đội, và cấp chỉ huy của mình.
Đồng ý sinh nghề tử nghiệp là chuyện đương nhiên. Nghề điệp báo của người lính Việt Nam Cộng Hòa Phan Quang Đông nếu rủi ro rơi vào tay quân thù cộng sản thì cái chết đến với ông chỉ nhẹ nhàng như trong bức thư tuyệt mệnh mà ông đã đề lại cho phu nhân của ông trước giờ ra pháp trường: “Anh không sợ chết, khi cái chết có ý nghĩa… Cái chết của người chiến sĩ trước giặc cộng”.
Thế nhưng, còn gì đau đớn và tủi hận bằng khi mà Trung Úy Phan Quang Đông bị bịt mắt và trói hai tay vào một cây cột tại sân vận động Tự Do, thuộc quận III thị xã Huế, vào trưa ngày 9 tháng 5 năm 1964. Chiến sĩ điệp báo Phan Quang Đông đã nhận lãnh một tràng đạn 11 viên vào thi thể ông và một viên ân huệ cuối cùng vào đầu từ một tiểu đội hành quyết Việt Nam Cộng Hòa, chiến hữu của Trung Úy Phan Quang Đông. Những người lính nầy phải thi hành phán quyết và lệnh của cái gọi là “Tòa Án Cách Mạng” của đám lục súc sanh mà đứng đầu là Thủ Tướng Nguyễn Khánh, Đại Tướng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. “Tòa Án Cách Mạng” của đám tướng phản loạn 1963 là một vết dơ tồi bại của ngành tư pháp Việt Nam, khi mà Chánh Thẩm và Dự Thẩm phía quân đội và dân sự đều đã nhận được lệnh phải xử tội chết cho “bị can”. Đặc biệt là đám Dự Thẩm dân sự, những kẻ trước ngày 1/11/1963 còn là những kẻ bị cơ quan An Ninh và Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa bắt giữ về tội làm gián điệp, nội tuyến, hoặc kinh tài cho cộng sản, thì nay lại ngồi vào ghế Dự Thẩm Nhân Dân như Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Văn Phước, v.v… để xử “Mật Vụ Nhu, Diệm Đàn Áp Phật Giáo”. Trong hoàn cảnh nầy thì ngay cả thượng đế nếu bị xem là “Mật Vụ Nhu Diệm” thì cũng phải chết chứ nói gì đến ông Phan Quang Đông, ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn, ông phó Tỉnh Trưởng Nội An, và Thiếu Tá Đặng Sĩ.
Thời gian năm mươi năm đã trôi qua, lịch sử đã bị bỏ quên, nỗi oan ngút tận trời xanh của Trưởng cơ quan tình báo chiến lược Việt Nam Cộng Hòa, Trung Úy Phan Quang Đông vẫn còn đó. Khi viết những dòng chữ về ông Phan Quang Đông, tôi không đóng vai một luật sư biện hộ cho ông. Tôi không có khả năng làm chuyện đó. Tôi chỉ là một đàn em, một chiến hữu của ông trong đời lính cũng như trong nghề nghiệp tình báo. Tôi chỉ có một ước nguyện là trình bày tất cả những sự thật, về trách nhiệm và bổn phận của ông đối với đồng bào, đối với đất nước mà tổ quốc và hồn thiêng sông núi, anh linh tiền nhân đã trao phó cho ông. Ông đã chu toàn trách nhiệm đó. Đây là một trách nhiệm quá cam go của chiến sĩ điệp báo Phan Quang Đông và những thuộc cấp đồng đội của ông. Họ đối đầu với quân thù cộng sản Bắc Việt ngay trên đất địch. Họ là những anh hùng trong bóng tối và âm thầm. Họ không bao giờ hưởng được ánh vinh quang. Tôi xin đưa một ví dụ để quý vị độc giả thấy rằng có những bí mật thuộc về an ninh quốc gia thật khó mà biết được, tương tự như trường hợp của cơ quan “Sở Nghiên Cứu Địa Lý” của ông Phan Quang Đông. Mọi chuyện đều nằm trong bóng tối cho đến khi sự việc mờ dần theo thời gian:
Tôi còn nhớ vào ngày 16/6/1966 thời gian Phật Giáo đấu tranh đang ở giai đoạn khốc liệt nhất tại Huế, và tôi mới từ Chi Khu Nam Hòa về chiếm Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên chỉ mới có 10 ngày. Bàn thờ Phật xuống đường khắp mọi nơi. Vào khoảng 11 giờ sáng ngày 16 tháng 6 năm 1966, điện thoại tại phòng làm việc tôi bỗng vang lên, tôi cầm ống liên hợp và trả lời: – Thiếu Úy Liên Thành, Phó Trưởng Ty Cảnh Sát Đặc Biệt tôi nghe. Đầu dây bên kia: -Tôi là Đại Úy Sơn, thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân xin báo tin buồn khẩn cấp cho Thiếu Úy và gia đình biết: Anh ruột của Thiếu Úy là Hải Quân Đại Úy Liên Phong vừa tử trận bên kia bờ Bắc. Chúng tôi sẽ tiếp tục liên lạc với Thiếu Úy và gia đình trong thời gian sớm nhất để gia đình vào nhận xác Cố Hải Quân Đại Úy Liên Phong. Xin giữ liên lạc với chúng tôi. -Vâng, xin cám ơn Đại Úy. Gát điện thoại xuống, tôi ngồi yên bất động rất lâu… rất lâu… và hai giòng nước mắt đã chảy ước má từ bao giờ mà tôi không hay.
Lien Phong
Ngày hôm sau cha tôi và các anh em tôi đi nhận xác, riêng tôi vì tình hình Huế lúc đó nên không thể rời nhiệm sở. Theo mong muốn của chị Liên Phong là chị Phạm Thị Phẳng và hai cháu gái con anh Liên Phong là Tôn Nữ Thùy Trang và Tôn Nữ Đoan Trang, cha tôi đã đồng ý để anh Liên Phong yên nghỉ tại Mỹ Tho cho gần chị Liên Phong và hai cháu mà không đưa về an táng tại Huế.
Hải Quân Đại Úy Liên Phong tốt nghiệp Khóa 8 Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang thời Đệ I Cộng Hòa. Ra trường làm Sĩ Quan Đệ III Chiến Hạm HQ-9 sau đó làm Hạm Phó, rồi Hạm Trưởng HQ-9, rồi Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn xung phong tại Vũng Tàu.
Sau đó khi cuộc chiến bắt đầu lên cao điểm, anh tôi đã tình nguyện sang phục vụ một lực lượng tối mật của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Đó là lực lượng Biệt Hải hay còn gọi Hải Tuần và còn nhiều tên nữa. Anh làm Hạm Trưởng một chiếc tàu PT, loại tàu xung kích chạy rất nhanh. Đây là loại tàu mà vào Đệ II Thế Chiến Trung Úy Kennedy đã từng làm hạm trưởng.
Lực Lượng Biệt Hải, hay Hải Tuần là một lực lượng tối mật của Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa và phối hợp với cơ quan Tình Báo CIA. Căn cứ được đặt bí mật tại Sơn Chà (?) Tiên Sa (?) thuộc vùng biển Đà Nẵng. Hoạt động của lực lượng nầy thường thuộc về đêm. Mỗi ngày, khi hoàng hôn bắt đầu phủ xuống, đoàn tàu PT, lực lượng bí mật của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa lướt sóng thật nhanh rời khỏi căn cứ bí mật tại Đà Nẵng. Lượt lượng bí mật vượt vĩ tuyến 17 tiến lên vùng biển Bắc trong đó có các vùng biển Nghệ An, Hà Tịnh, Thanh Hóa, hay vùng Vịnh Bắc Việt, hoặc hải cảng Hải Phòng v.v… và họ trở lại căn cứ bí mật tại Đà Nẵng vào rạng sáng hôm sau.
Những chiến sĩ can trường của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã thi hành sứ mạng gì trên vùng biển Bắc? – Đưa điệp viên của VNCH vào vùng hoạt động trên đất địch. – Đón những điệp viên của ta đã xong nhiệm vụ trở về từ đất địch. – Đột nhập, bất thần tấn công các căn cứ hải quân quan trọng của địch dọc theo bờ biển từ bắc vĩ tuyến 17 ra đến vịnh Bắc việt và ngay cả hải cảng Hải Phòng. -Bắt cóc một số ngư phủ miền Bắc hoặc cán bộ cộng sản đem về căn cứ bí mật tại miền Nam, nuôi dưỡng giáo dục sau đó tung họ ngược trở lại miền Bắc để họ hoạt động cho Việt Nam Cộng Hòa. -Và nhiều công tác bí mật khác mà không bao giờ được tiết lộ…
Điều cuối cùng mà gia đình chúng tôi biết về anh Liên Phong: Vào đêm ngày 15 tháng 6 năm 1966 trong khi đang hoạt động trên đất địch, trong vùng biển Thanh Hóa, tình trạng thời tiết xấu, biển đầy sương mù, Rada trên tàu PT lại bị hỏng, chiếc PT do anh chỉ huy đã rơi vào ổ phục kích của tàu địch. Anh và hầu như trọn vẹn các chiến hữu Hải Quân thuộc cấp của anh trên chiếc PT đã đền nợ nước.
Bao nhiêu năm trôi qua, kể từ ngày cuộc chiến Việt Nam chấm dứt, đã có ai biết, có ai nhắc nhở đến những anh hùng vô danh của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa thuộc lực lượng Biệt Hải của Bộ Tư Lệnh Hải Quân, hoặc những chiến sĩ thuộc binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt đã nhảy Bắc, hay những điệp viên thuộc “Sở Nghiên Cứu Địa Lý” của ông Phan Quang Đông đã bỏ mình trên đất Bắc? Câu trả lời là không, vì chẳng ai biết được các hoạt động tối mật nầy. Tôi đơn cử trường hợp của anh tôi, Hải Quân Đại Úy Liên Phong với mục đích để độc giả thấy rằng khó mà biết được những cơ quan tình báo quân sự cũng như dân sự Việt Nam Cộng Hòa đã hoạt động ra sao. Những chiến sĩ đó khi họ đền nợ nước, họ chỉ là những anh hùng vô danh và họ sẽ mờ dần theo thời gian, đi vào cõi hư vô quên lãng!
Trở lại Cơ quan “Nghiên Cứu Địa Lý” của Ông Phan Quang Đông, việc làm của họ, thành hay bại chỉ có cấp chỉ huy trực tiếp của họ là Trưởng cơ quan Nghiên Cứu Chính trị tại Phủ Tổng Thống, và thượng cấp tối cao của họ là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm biết đến mà thôi.
Đây là một nhiệm vụ đối đầu với quân địch trên đất địch giống như nhiệm vụ của anh tôi, chẳng có dính dấp gì đến tình hình chính trị chính em tại miền Nam. Vậy mà tên Ác Tăng cộng sản Thích Trí Quang đã chụp mũ cho ông Phan Quang Đông là “Mật Vụ Nhu Diệm, đàn áp Phật Giáo”, đem ông ra tòa án “Nhân Dân Cách Mạng” và xử bắn ông ta.
Từ nhiều năm nay tôi đi thuyết trình về Biến Động Miền Trung, về Huế – Thảm Sát Mậu Thân tại nhiều Tiểu Bang ở Hoa Kỳ, tại Âu Châu, và ở Úc Châu. Đâu đâu tôi cũng gào hét hãy trả lại sự thật cho lịch sử, trả lại công đạo cho Trung Úy Phan Quang Đông. Xin hãy để tên người anh hùng điệp báo nầy vào danh sách những chiến sĩ đã Vị Quốc Vong Thân.
Cuộc đời của ông Phan Quang Đông và gia dình ông đã nhận lãnh bao nhiêu đắng cay, bao nhiêu là thảm họa của đất nước do cộng sản gây ra: Cha mẹ bị cộng sản đấu tố chết tại miền Bắc. Chính ông bị Ác Tăng việt cộng Thích Trí Quang và đám loạn tướng mở “Tòa Án Cách Mạng Nhân Dân” xử bắn. Sau ngày 30/4/1975, Phu nhân của ông là bà Nguyễn Thúy Toan cùng hai con dại là bé Phan Diễm Trâm và Phan Diễm Ly đã vượt biển “Đông” nhưng không bao giờ đến được bến bờ tự do, họ đã chìm sâu trong lòng biển lạnh, họ đã tìm về biển “Đông” về với về với người chồng, người cha, người Anh Hùng Phan Quang Đông.
Trung Úy Phan Quang Đông, xin ông an nghỉ: “Tổ Quốc Ngàn Đời Ghi Ơn Ông”.
Nhân đây tôi xin được chân thành cám Ông Bà Nguyễn Quang Hào hiện đang định cư tại Âu Châu, đặc biệt là Bà Nguyễn Quang Hào (tức Nguyễn Minh Phương) là em ruột của Bà Nguyễn Thúy Toan phu nhân của ông Phan Quang Đông đã cho tôi một số tài liệu quý báu và cần thiết khi viết về ông Phan Quang Đông.
Xin đặc biệt cám ơn: – Anh Phạm Văn Thông, anh Nguyễn Văn Sâm, cựu Đại Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cả hai anh hiện đang định cư tại Đức Quốc. – Ông Phan Quang Điều, cựu Trung Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, phục vụ trong ngành An Ninh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. – Ông Đinh Quang Hân, cựu nhân viên phục vụ tại văn phòng ông Phan Quang Đông từ 1959-1963. – Ông Nguyễn T.H., Chánh Văn Phòng của ông Phan Quang Đông, và từ 1966-1974 là Chánh Văn Phòng Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Cảnh sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế.
Xin cám ơn tất cả quý vị đã giúp tôi hoàn thành tâm nguyện là trả lại công bằng và công lý cho Chiến Sĩ Điệp Báo Trung Úy Phan Quang Đông.
Tóm lại, qua âm mưu của Đại Sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge, của Ác Tăng Cộng Sản Thích Trí Quang, và của đám loạn tướng, Loạn Tướng Nguyễn Khánh đã thành lập “Tòa Án Cách Mạng Nhân Dân” để xử tử ba người. Nhưng sau khi bọn họ thành công được với 2 người. Còn người thứ 3 là Thiếu Tá Đặng Sĩ thì bọn họ gặp phản ứng mạnh mẽ của Khối Công Giáo nên phải ngừng tay, buông đồ đao chờ thời cơ thuận tiện:
1)- Ông Phan Quang Đông – Bị xử bắn vào 1 giờ trưa ngày 9/5/1964 tức là ngày 28 tháng 3 năm Giáp Thìn, tại sân vận động Tự Do thuộc Quân III Thị xã Huế.
2)- Ông Cố Vấn Ngô Đình Cẩn – Bị xử bắn vào 5 giờ chiều cùng ngày 9/5/1964 tại khám Chí Hòa, Sài Gòn.
3)- Thiếu Tá Đặng Sĩ – Phó Tỉnh Trưởng Nội An Tỉnh Thừa Thiên, liên quan đến vụ nổ tại Đài Phát Thanh Huế vào tối Phật Đản ngày 8 tháng 5 năm 1963. Số phận của Thiếu Tá Đặng Sĩ cũng do Tướng Khánh quyết định, như số phận của ông Cố Vấn Ngô Đình Cẩn và ông Phan Quang Đông cho vừa lòng ông Đại Sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge và tên đại gian ác Việt Cộng Thích Trí Quang. Quyết định đó là tử hình Thiếu Tá Đặng Sĩ.
Thế nhưng, sáng ngày 7/6/1964 Khối Công Dân Công Giáo đã tổ chức một cuộc biểu tình lớn khoảng gần cả 100.000 người tại Công Trường Lam Sơn trước mặt Trụ sở Quốc Hội tại Thủ Đô Sài Gòn. Trong đoàn biểu tình đã có những biểu ngữ nội dung như:
“Lột mặt nạ bọn lợi dụng Cách Mạng để đàn áp công giáo” v.v… Trước thái độ và áp lực của đồng bào Công giáo, chiều ngày 7/6/1964, Tướng Khánh đã phái Chuẩn Tướng Albert Nguyễn Cao đến gặp Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, Linh Mục Trần Tử Nhãn của Dòng Chúa Cứu Thế, và gia đình của Thiếu Tá Đặng Sĩ cho biết rằng:
“Thiếu tá Đặng Sĩ sẽ không bị tuyên án tử hình, và đừng quan tâm đến bản án tòa sẽ tuyên trong ngày mai. Tòa chỉ tuyên án để thỏa mãn những đòi hỏi của Phật giáo mà thôi. Trong một thời gian ngắn, khi tình hình lắng dịu, Đặng Sĩ sẽ được trả tự do”.
Như vậy chúng ta thấy rõ rằng, chuyện sống chết của ông Cố Vấn Ngô Đình Cẩn, ông Phan Quang Đông, và Thiếu Tá Đặng Sĩ đã được 3 thế lực sắp đặt từ trước: Thứ nhất là Cabot Lodge, thứ hai là đám tướng lãnh phản loạn mà đại diện là Tướng Nguyễn Khánh, và thế lực thứ ba là tên vong ơn bội nghĩa Ác Tăng cộng sản Thích Trí Quang.
Để kết thúc phần trên, xin trích một đoạn trong bài viết của Thẩm Phán Nguyễn Cần về phần nhận xét của Luật Sư Võ Văn Quan, vị luật sư đã biện hộ cho ông Cố Vấn Ngô Đình Cẩn. Ở phần kết của bài biện hộ trong phiên tòa tại Tòa Án Cách Mạng 1/11/1963 như sau, Luật Sư Võ Văn Quan đã nói:
“Trong cuộc Cách Mạng Pháp vào năm 1789, Quốc hội gọi là Convention National được bầu trong thời kỳ khủng bố (La Terreur) gồm đa số những người do tên độc tài khát máu Robespiere dùng áp lực để đưa vào. Trước khi đem Vua Louis XVI ra xét xử tại Quốc Hội, Robsespiere đã tuyên bố phải cho bản án tử hình. Trong phiên tòa đặc biệt đó, nhiều người của Convention National đã chất vấn hằn học, mạt sát thậm tệ Vua Louis XVI cho biết trước rằng họ sẽ bỏ phiếu tuyên án tử hình. Khi đứng lên biện hộ cho Vua Louis XVI, Luật Sư Sège đã can trường nói thẳng với họ:
“Je viens ici chercher des juges, mais je ne trouve que des bourreaux.” (Tôi đến đây tìm những vị thẩm phán quan, nhưng tôi chỉ gặp những tên đao thủ phủ).
Vâng, các tướng Tướng Trần Văn Đôn, Tướng Trần Thiện Khiêm, Tướng Tôn Thất Đính, Tướng Đỗ Mậu, Tướng Nguyễn Khánh, Tướng Lê Văn Kim, Tướng Dương Văn Minh, Tướng Đỗ Cao Trí, Tướng Nguyễn Chánh Thi, Trưởng Tư Pháp Nguyễn Văn Mầu đã là đao phủ thủ giết chết một anh hùng sĩ quan tình báo Việt Nam Cộng Hòa. Một anh hùng khác là ông Cố Vấn Ngô Đình Cẩn, bên cạnh những đao phủ thủ mặc áo cà sa là các ác tăng cộng tăng Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh, Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang, Thích Hộ Giác, Thích Chánh Lạc, Thích Thiện Hoa, Thích Trí Thủ, Thích Tâm Châu, và những tên họ Thích khác đã góp máu vào cuộc đảo chánh TT Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu ngày 1/11/1963.
Liên Thành